Điểm mới trong Thông tư 22 về đánh giá học sinh tiểu học
Sau một thời gian triển khai, Thông tư 22 đã nhận được rất nhiều phản hồi tích cực từ cán bộ quản lý, giáo viên và phụ huynh học sinh trên khắp cả nước. Vậy Thông tư 22 này có những thay đổi, bổ sung gì? Hãy theo dõi bài viết dưới đây để cùng tìm hiểu nhé:
Những điểm mới trong Thông tư 22/2016/TT-BGDĐT

1. Đổi tên, sửa đổi, bổ sung Điều 4
Đổi tên Điều 4:
-
Đổi tên thành "Điều 4: Yêu cầu đánh giá".
Sửa đổi, bổ sung khoản 1, khoản 3 Điều 4:
-
Khoản 1: Đánh giá vì sự tiến bộ của học sinh; coi trọng việc động viên, khuyến khích sự cố gắng trong học tập, rèn luyện của học sinh; giúp học sinh phát huy nhiều nhất khả năng; đảm bảo kịp thời, công bằng, khách quan.
-
Khoản 3: Đánh giá thường xuyên bằng nhận xét, đánh giá định kỳ bằng điểm số kết hợp với nhận xét; kết hợp đánh giá của giáo viên, học sinh, cha mẹ học sinh, trong đó đánh giá của giáo viên là quan trọng nhất.
2. Sửa đổi, bổ sung khoản 2 Điều 5
Đánh giá sự hình thành và phát triển năng lực, phẩm chất của học sinh:
-
Năng lực: Tự phục vụ, tự quản; hợp tác; tự học và giải quyết vấn đề.
-
Phẩm chất: Chăm học, chăm làm; tự tin, trách nhiệm; trung thực, kỉ luật; đoàn kết, yêu thương.
3. Sửa đổi, bổ sung Điều 6
3. 1. Đánh giá thường xuyên là đánh giá trong quá trình học tập, rèn luyện về kiến thức, kĩ năng, thái độ và một số biểu hiện năng lực, phẩm chất của học sinh, được thực hiện theo tiến trình nội dung của các môn học và các hoạt động giáo dục.
Đánh giá thường xuyên cung cấp thông tin phản hồi cho giáo viên và học sinh nhằm hỗ trợ, điều chỉnh kịp thời, thúc đẩy sự tiến bộ của học sinh theo mục tiêu giáo dục tiểu học.
3. 2. Đánh giá thường xuyên về học tập:
-
Giáo viên dùng lời nói chỉ ra cho học sinh biết được chỗ đúng, chưa đúng và cách sửa chữa; viết nhận xét vào vở hoặc sản phẩm học tập của học sinh khi cần thiết, có biện pháp cụ thể giúp đỡ kịp thời.
-
Học sinh tự nhận xét và tham gia nhận xét sản phẩm học tập của bạn, nhóm bạn trong quá trình thực hiện các nhiệm vụ học tập để học và làm tốt hơn.
-
Khuyến khích cha mẹ học sinh trao đổi với giáo viên về các nhận xét, đánh giá học sinh bằng các hình thức phù hợp và phối hợp với giáo viên động viên, giúp đỡ học sinh học tập, rèn luyện.
3.3. Đánh giá thường xuyên về năng lực, phẩm chất:
-
Giáo viên căn cứ vào các biểu hiện về nhận thức, kĩ năng, thái độ của học sinh ở từng năng lực, phẩm chất để nhận xét, có biện pháp giúp đỡ kịp thời.
-
Học sinh được tự nhận xét và được tham gia nhận xét bạn, nhóm bạn về những biểu hiện của từng năng lực, phẩm chất để hoàn thiện bản thân.
-
Khuyến khích cha mẹ học sinh trao đổi, phối hợp với giáo viên động viên, giúp đỡ học sinh rèn luyện và phát triển năng lực, phẩm chất.
4. Sửa đổi, bổ sung Điều 10
4.1. Đánh giá định kì là đánh giá kết quả giáo dục của học sinh sau một giai đoạn học tập, rèn luyện, nhằm xác định mức độ hoàn thành nhiệm vụ học tập của học sinh so với chuẩn kiến thức, kĩ năng quy định trong chương trình giáo dục phổ thông cấp tiểu học và sự hình thành, phát triển năng lực, phẩm chất học sinh.
4.2. Đánh giá định kì về học tập:
-
Vào giữa học kì I, cuối học kì I, giữa học kì II và cuối năm học, giáo viên căn cứ vào quá trình đánh giá thường xuyên và chuẩn kiến thức, kĩ năng để đánh giá học sinh đối với từng môn học, hoạt động giáo dục theo các mức sau:
-
Hoàn thành tốt: Thực hiện tốt các yêu cầu học tập của môn học hoặc hoạt động giáo dục.
-
Hoàn thành: Thực hiện được các yêu cầu học tập của môn học hoặc hoạt động giáo dục.
-
Chưa hoàn thành: Chưa thực hiện được một số yêu cầu học tập của môn học hoặc hoạt động giáo dục.
-
-
Vào cuối học kì I và cuối năm học, đối với các môn học: Tiếng Việt, Toán, Khoa học, Lịch sử và Địa lí, Ngoại ngữ, Tin học, Tiếng dân tộc có bài kiểm tra định kì. Đối với lớp 4, lớp 5, có thêm bài kiểm tra định kì môn Tiếng Việt, môn Toán vào giữa học kì I và giữa học kì II.
-
Đề kiểm tra định kì phù hợp chuẩn kiến thức, kĩ năng và định hướng phát triển năng lực, gồm các câu hỏi, bài tập được thiết kế theo các mức như sau:
-
Mức 1: Nhận biết, nhắc lại được kiến thức, kĩ năng đã học.
-
Mức 2: Hiểu kiến thức, kĩ năng đã học, trình bày, giải thích được kiến thức theo cách hiểu của cá nhân.
-
Mức 3: Biết vận dụng kiến thức, kĩ năng đã học để giải quyết những vấn đề quen thuộc, tương tự trong học tập, cuộc sống.
-
Mức 4: Vận dụng các kiến thức, kĩ năng đã học để giải quyết vấn đề mới hoặc đưa ra những phản hồi hợp lý trong học tập, cuộc sống một cách linh hoạt.
-
-
Bài kiểm tra được giáo viên sửa lỗi, nhận xét, cho điểm theo thang 10 điểm, không cho điểm 0, không cho điểm thập phân và được trả lại cho học sinh. Điểm của bài kiểm tra định kì không dùng để so sánh học sinh này với học sinh khác. Nếu kết quả bài kiểm tra cuối học kì I và cuối năm học bất thường so với đánh giá thường xuyên, giáo viên đề xuất với nhà trường có thể cho học sinh làm bài kiểm tra khác để đánh giá đúng kết quả học tập của học sinh.
4.3. Đánh giá định kì về năng lực, phẩm chất:
Vào giữa học kì I, cuối học kì I, giữa học kì II và cuối năm học, giáo viên chủ nhiệm căn cứ vào các biểu hiện liên quan đến nhận thức, kĩ năng, thái độ trong quá trình đánh giá thường xuyên về sự hình thành và phát triển từng năng lực, phẩm chất của mỗi học sinh, tổng hợp theo các mức sau:
-
Tốt: Đáp ứng tốt yêu cầu giáo dục, biểu hiện rõ và thường xuyên.
-
Đạt: Đáp ứng được yêu cầu giáo dục, biểu hiện nhưng chưa thường xuyên.
-
Cần cố gắng: Chưa đáp ứng được đầy đủ yêu cầu giáo dục, biểu hiện chưa rõ.
5. Sửa đổi, bổ sung Điều 12
-
Đánh giá học sinh khuyết tật và học sinh học ở các lớp học linh hoạt bảo đảm quyền được chăm sóc và giáo dục.
-
Học sinh khuyết tật học theo phương thức giáo dục hoà nhập được đánh giá như đối với học sinh không khuyết tật có điều chỉnh yêu cầu hoặc theo yêu cầu của kế hoạch giáo dục cá nhân.
-
Học sinh khuyết tật học theo phương thức giáo dục chuyên biệt được đánh giá theo quy định dành cho giáo dục chuyên biệt hoặc theo yêu cầu của kế hoạch giáo dục cá nhân.
-
Đối với học sinh học ở các lớp học linh hoạt: Giáo viên căn cứ vào nhận xét, đánh giá thường xuyên qua các buổi học tại lớp học linh hoạt và kết quả đánh giá định kì môn Toán, môn Tiếng Việt được thực hiện theo quy định tại Điều 10 của Quy định này.
6. Đổi tên, sửa đổi, bổ sung Điều 13
Đổi tên Điều 13:
-
Đổi thành "Điều 13: Hồ sơ đánh giá và tổng hợp kết quả đánh giá".
Sửa đổi, bổ sung Điều 13:
-
Hồ sơ đánh giá gồm Học bạ và Bảng tổng hợp kết quả đánh giá giáo dục của lớp.
-
Giữa học kì và cuối học kì, giáo viên ghi kết quả đánh giá giáo dục của học sinh vào Bảng tổng hợp kết quả đánh giá giáo dục của lớp. Bảng tổng hợp kết quả đánh giá giáo dục của các lớp được lưu giữ tại nhà trường theo quy định.
-
Cuối năm học, giáo viên chủ nhiệm ghi kết quả đánh giá giáo dục của học sinh vào Học bạ. Học bạ được nhà trường lưu giữ trong suốt thời gian học sinh học tại trường, được giao cho học sinh khi hoàn thành chương trình tiểu học hoặc đi học trường khác.
7. Sửa đổi, bổ sung khoản 1 Điều 14
Khoản 1: Xét hoàn thành chương trình lớp học:
-
Học sinh được xác nhận hoàn thành chương trình lớp học phải đạt các điều kiện sau:
-
Đánh giá định kì về học tập cuối năm học của từng môn học và hoạt động giáo dục: Hoàn thành tốt hoặc Hoàn thành.
-
Đánh giá định kì về từng năng lực và phẩm chất cuối năm học: Tốt hoặc Đạt.
-
Bài kiểm tra định kì cuối năm học của các môn học đạt điểm 5 trở lên.
-
-
Đối với học sinh chưa được xác nhận hoàn thành chương trình lớp học, giáo viên lập kế hoạch, hướng dẫn, giúp đỡ; đánh giá bổ sung để xét hoàn thành chương trình lớp học.
-
Đối với học sinh đã được hướng dẫn, giúp đỡ mà vẫn chưa đủ điều kiện hoàn thành chương trình lớp học, tùy theo mức độ chưa hoàn thành ở các môn học, hoạt động giáo dục, mức độ hình thành và phát triển một số năng lực, phẩm chất, giáo viên lập danh sách báo cáo hiệu trưởng xem xét, quyết định việc lên lớp hoặc ở lại lớp.
8. Sửa đổi, bổ sung Điều 15
-
Nghiệm thu, bàn giao chất lượng giáo dục học sinh nhằm đảm bảo tính khách quan và trách nhiệm của giáo viên về kết quả đánh giá học sinh; giúp giáo viên nhận học sinh vào năm học tiếp theo có đủ thông tin cần thiết để có kế hoạch, biện pháp giáo dục hiệu quả.
-
Hiệu trưởng chỉ đạo nghiệm thu, bàn giao chất lượng giáo dục học sinh:
-
Đối với học sinh lớp 1, 2, 3, 4: Giáo viên chủ nhiệm trao đổi với giáo viên sẽ nhận học sinh vào năm học tiếp theo về những nét nổi bật hoặc hạn chế của học sinh, bàn giao hồ sơ đánh giá học sinh theo quy định tại khoản 1 Điều 13 của Quy định này.
-
Đối với học sinh lớp 5: Tổ chuyên môn ra đề kiểm tra định kì cuối năm học cho cả khối; tổ chức coi, chấm bài kiểm tra có sự tham gia của giáo viên trường trung học cơ sở trên cùng địa bàn; giáo viên chủ nhiệm hoàn thiện hồ sơ đánh giá học sinh, bàn giao cho nhà trường.
-
-
Trưởng phòng giáo dục và đào tạo chỉ đạo các nhà trường trên cùng địa bàn tổ chức nghiệm thu, bàn giao chất lượng giáo dục học sinh hoàn thành chương trình tiểu học lên lớp 6 phù hợp với điều kiện của các nhà trường và địa phương.
9. Sửa đổi, bổ sung Điều 16
Hiệu trưởng tặng giấy khen cho học sinh:
-
Khen thưởng cuối năm học:
-
Học sinh hoàn thành xuất sắc các nội dung học tập và rèn luyện: Kết quả đánh giá các môn học đạt Hoàn thành tốt, các năng lực, phẩm chất đạt Tốt; bài kiểm tra định kì cuối năm học các môn học đạt 9 điểm trở lên.
-
Học sinh có thành tích vượt trội hay tiến bộ vượt bậc về ít nhất một môn học hoặc ít nhất một năng lực, phẩm chất được giáo viên giới thiệu và tập thể lớp công nhận.
-
-
Khen thưởng đột xuất: Học sinh có thành tích đột xuất trong năm học.
Học sinh có thành tích đặc biệt được nhà trường xem xét, đề nghị cấp trên khen thưởng.
10. Sửa đổi, bổ sung Điều 17
-
Giám đốc sở giáo dục và đào tạo chịu trách nhiệm:
-
Chỉ đạo trưởng phòng giáo dục và đào tạo tổ chức việc thực hiện đánh giá học sinh tiểu học trên địa bàn; báo cáo kết quả thực hiện về Bộ Giáo dục và Đào tạo.
-
Hướng dẫn việc sử dụng Học bạ của học sinh.
-
-
Trưởng phòng giáo dục và đào tạo chỉ đạo hiệu trưởng tổ chức việc thực hiện đánh giá, nghiệm thu, bàn giao chất lượng giáo dục học sinh tiểu học trên địa bàn; báo cáo kết quả thực hiện về sở giáo dục và đào tạo.
-
Giám đốc sở giáo dục và đào tạo, trưởng phòng giáo dục và đào tạo chịu trách nhiệm theo dõi, kiểm tra, giải quyết khó khăn, vướng mắc trong quá trình thực hiện Thông tư này tại địa phương.
11. Sửa đổi, bổ sung Điều 18
-
Chịu trách nhiệm chỉ đạo tổ chức, tuyên truyền thực hiện đánh giá học sinh theo quy định tại Thông tư này; đảm bảo chất lượng đánh giá; báo cáo kết quả thực hiện về phòng giáo dục và đào tạo.
-
Tôn trọng quyền tự chủ của giáo viên trong việc thực hiện quy định đánh giá học sinh.
-
Chỉ đạo việc ra đề kiểm tra định kì; xây dựng và thực hiện kế hoạch bồi dưỡng, giúp đỡ học sinh; nghiệm thu, bàn giao chất lượng giáo dục học sinh; xác nhận kết quả đánh giá học sinh cuối năm học; xét lên lớp; quản lí hồ sơ đánh giá học sinh.
-
Giải trình, giải quyết thắc mắc, kiến nghị về đánh giá học sinh trong phạm vi và quyền hạn của hiệu trưởng.
12. Sửa đổi, bổ sung Điều 19
Giáo viên chủ nhiệm:
-
Chịu trách nhiệm chính trong việc đánh giá học sinh, kết quả giáo dục học sinh trong lớp; hoàn thành hồ sơ đánh giá học sinh theo quy định; nghiệm thu, bàn giao chất lượng giáo dục học sinh.
-
Thông báo riêng cho cha mẹ học sinh về kết quả đánh giá quá trình học tập, rèn luyện của mỗi học sinh.
-
Hướng dẫn học sinh tự nhận xét và tham gia nhận xét bạn, nhóm bạn. Tuyên truyền cho cha mẹ học sinh về nội dung và cách thức đánh giá theo quy định tại Thông tư này; phối hợp và hướng dẫn cha mẹ học sinh tham gia vào quá trình đánh giá.
Giáo viên không làm công tác chủ nhiệm:
-
Chịu trách nhiệm đánh giá quá trình học tập, rèn luyện và kết quả học tập của học sinh đối với môn học, hoạt động giáo dục theo quy định.
-
Phối hợp với giáo viên chủ nhiệm, giáo viên cùng lớp, cha mẹ học sinh thực hiện việc đánh giá học sinh; hoàn thành hồ sơ đánh giá học sinh; nghiệm thu chất lượng giáo dục học sinh.
-
Hướng dẫn học sinh tự nhận xét và tham gia nhận xét bạn, nhóm bạn.
Giáo viên theo dõi sự tiến bộ của học sinh, ghi chép những lưu ý với học sinh có nội dung chưa hoàn thành hoặc có khả năng vượt trội. Trong trường hợp cần thiết, giáo viên thông báo riêng cho cha mẹ học sinh về kết quả đánh giá của mỗi học sinh.
13. Sửa đổi, bổ sung Điều 20
-
Được nêu ý kiến và nhận sự hướng dẫn, giải thích của giáo viên, hiệu trưởng về kết quả đánh giá.
-
Tự nhận xét và tham gia nhận xét bạn, nhóm bạn theo hướng dẫn của giáo viên.
14. Bãi bỏ, thay đổi từ ngữ
-
Bãi bỏ khoản 3 Điều 5, Điều 7, Điều 8, Điều 9 và Điều 11.
-
Thay đổi cụm từ "đánh giá" thành "nhận xét" tại khoản 2 Điều 3.
Trên đây là toàn bộ những thay đổi, bổ sung đáng chú ý trong Thông tư 22 về đánh giá học sinh Tiểu học!
Trong thập kỷ trước, hệ thống băng tải thường được xem là một khoản đầu tư xa xỉ, chỉ dành cho các tập đoàn có quy mô lớn. Nhưng hiện tại, trước áp lực khốc liệt của chuỗi cung ứng toàn cầu và sự bùng nổ của thương mại điện tử, cục diện đã hoàn toàn thay đổi. Việc lắp đặt hệ thống băng tải công nghiệp không còn là lựa chọn "có thì tốt", mà đã trở thành điều kiện tiên quyết để các doanh nghiệp sản xuất và logistics có thể trụ vững trên thị trường.
Tốc độ sản xuất phá vỡ giới hạn của sức người
Trong các môi trường sản xuất, rào cản lớn nhất kìm hãm năng suất chính là giới hạn vật lý của con người. Dù tổ đội bốc xếp có đông đảo đến đâu, tốc độ luân chuyển hàng hóa vẫn luôn bị kéo tụt bởi sự mệt mỏi, thời gian chuyển ca và sự chênh lệch nhịp độ giữa các cá nhân. Khi hệ thống băng tải tự động được đưa vào vận hành, nút thắt này lập tức bị phá vỡ. Thiết bị cơ khí thiết lập một quỹ đạo vận chuyển đều đặn, gánh vác những công việc nặng nhọc nhất và duy trì tốc độ xử lý chuẩn xác mà không hề có dấu hiệu đình trệ hay sai nhịp.
Khả năng luân chuyển liên tục giúp nhà máy rút ngắn đáng kể vòng quay sản xuất (Lead time), duy trì dòng chảy hàng hóa ổn định và khai thác tối đa công suất của dây chuyền. Nhờ đó, doanh nghiệp có thể chủ động xử lý những đơn hàng lớn trong thời gian ngắn, đảm bảo tiến độ giao hàng và nâng cao năng lực cạnh tranh trong các chuỗi cung ứng yêu cầu tốc độ và độ chính xác cao.

Lời giải cấp thiết cho bài toán thiếu hụt nhân lực
Nhiều năm trước, lợi thế cạnh tranh của các xưởng sản xuất chủ yếu dựa vào nguồn lao động giá rẻ. Tuy nhiên, khi thế hệ lao động trẻ hiện nay không còn mặn mà với những công việc khuân vác nặng nhọc, lặp đi lặp lại, các nhà máy bắt đầu thấm đòn "khủng hoảng nhân sự".
Đầu tư vào hệ thống băng tải chính là giải pháp để cứu vãn tình hình. Một dây chuyền băng tải vận hành liên tục có thể gánh vác khối lượng công việc của hàng chục công nhân bốc xếp. Cỗ máy có thể hoạt động liên tục, không mệt mỏi, không nghỉ phép và hoàn toàn miễn nhiễm với các biến động nhân sự. Quỹ lương khổng lồ tiết kiệm được sẽ giúp doanh nghiệp tái phân bổ lao động vào các khâu mang lại giá trị cao hơn như vận hành máy móc, kiểm soát chất lượng (QC) hay nghiên cứu phát triển.
Khoản đầu từ sinh lời bền vững
Dưới lăng kính quản trị tài chính, hệ thống băng tải không bao giờ là một khoản chi phí tiêu hao, mà thực chất là một "tài sản sinh lời bền vững". Mặc dù nguồn vốn đầu tư ban đầu có thể khiến nhiều doanh nghiệp e ngại, nhưng bài toán hoàn vốn (ROI) lại mang tính thuyết phục cao. Bằng cách cắt bỏ hoàn toàn quỹ lương bốc xếp khổng lồ hàng tháng, triệt tiêu chi phí đền bù do hàng hóa rơi vỡ và chặn đứng những khoản thiệt hại khôn lường từ việc dừng máy
Khi ứng dụng hệ thống vào sản xuất, doanh nghiệp có thể tự bù đắp chi phí trong vòng 12 đến 18 tháng đầu tiên. Bước qua điểm hòa vốn, với kết cấu cơ khí bền bỉ và vòng đời vận hành lâu dài, cỗ máy sẽ tiếp tục tối ưu hóa dòng tiền, chuyển hóa trực tiếp công suất tự động hóa thành biên độ lợi nhuận ròng vững chắc cho doanh nghiệp

Tạo không gian làm việc an toàn và chuyên nghiệp
Sự xuất hiện của hệ thống băng tải giúp tái cấu trúc hoàn toàn bộ mặt nhà xưởng. Bằng việc quy hoạch luồng hàng hóa di chuyển trên một quỹ đạo cố định, doanh nghiệp sẽ loại bỏ được tình trạng xe nâng, xe đẩy chạy đan xen lộn xộn, triệt tiêu triệt để rủi ro tai nạn giao thông nội bộ và an toàn lao động do bốc vác hàng hóa nặng
Không chỉ bảo vệ tối đa sức khỏe người công nhân, việc trả lại một mặt sàn thông thoáng, trật tự và vận hành êm ái còn giúp nhà máy đáp ứng hoàn hảo các tiêu chuẩn 5S. Đây chính là "điểm chạm" trực quan nhất thể hiện năng lực quản trị, xây dựng một môi trường làm việc khoa học, an toàn và chuyên nghiệp
Đảm bảo tính toàn vẹn của hàng hóa
Quá trình bốc xếp thủ công hay sử dụng xe kéo luôn là nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng hàng hóa bị rơi vỡ, trầy xước hay móp méo. Sử dụng hệ thống băng tải sẽ loại bỏ "biến số" rủi ro này bằng một quỹ đạo luân chuyển cố định, trơn tru và êm ái. Dù là linh kiện điện tử mỏng manh, chai lọ dễ vỡ hay các kiện hàng đắt tiền, đều sẽ được di chuyển an toàn qua từng công đoạn. hạn chế tối đa những va chạm không đáng có trong quá trình vận chuyển.
Không chỉ giúp giảm tỷ lệ hư hỏng và chi phí phát sinh, băng tải còn tạo nên một quy trình luân chuyển nhất quán, dễ kiểm soát, từ đó nâng cao độ chính xác và hiệu suất vận hành cho toàn bộ dây chuyền. Khi rủi ro được kiểm soát ngay từ khâu di chuyển, doanh nghiệp có thể yên tâm về chất lượng hàng hóa trước khi đến tay khách hàng.
Băng tải PVC thông dụng nhiều ngành công nghiệp
