Apple đã chuyển 11 nhà máy trong chuỗi cung ứng của họ sang Việt Nam
Tại Hội nghị, bà Đỗ Thị Thúy Hương, Phó Chủ tịch Hiệp hội Công nghiệp Hỗ trợ Việt Nam (VASI), Uỷ viên Ban chấp hàng Hiệp hội Doanh nghiệp điện tử Việt Nam (VEIA) cho biết, tác động của đại dịch COVID-19, xung đột giữa Nga - Ukraine và chính sách Zero-Covid của Trung Quốc đã khiến giá nhiên, nguyên liệu tăng phi mã, chuỗi cung ứng sản xuất linh kiện bị gián đoạn, ảnh hưởng nghiêm trọng tới ngành công nghiệp hỗ trợ Việt Nam, nhất là ngành công nghiệp sản xuất linh kiện điện tử.
Cũng chính vì thiếu vật liệu sản xuất, các doanh nghiệp điện tử Việt Nam đã phải cắt giảm sản lượng. Riêng trong tháng 5/2022 đã giảm 20%. Mặt khác, ngành công nghiệp hỗ trợ nói chung và ngành sản xuất linh kiện điện tử nói riêng còn đối mặt với tình trạng thiếu lao động, nhất là lao động có tay nghề, lao động có trình độ cao.
Song, theo bà Hương, ngành sản xuất linh kiện điện tử Việt Nam vẫn có một số lợi thế nhất định, đơn cử như việc được hưởng lợi từ xu hướng chuyển dịch chuỗi cung ứng. Các hãng lớn của thế giới đã và đang dịch chuyển nhà máy, chuỗi sản xuất từ Trung Quốc sang các nước xung quanh.
Trong đó, các nhà sản xuất trong chuỗi cung ứng toàn cầu của những hãng lớn đang dần tập trung vào Việt Nam: Apple đã chuyển 11 nhà máy của các doanh nghiệp Đài Loan (Trung Quốc) trong chuỗi cung ứng của hãng này sang Việt Nam; nhiều hãng khác như Foxconn, Luxshare, Pegatron, Wistron cũng mở rộng cơ sở sản xuất sẵn có tại Việt Nam...
Samsung xây dựng trung tâm nghiên cứu và phát triển lớn nhất của Tập đoàn tại khu vực Đông Nam Á trị giá 220 triệu USD tại Hà Nội, và cũng đang có kế hoạch tiếp tục mở rộng nhà máy tại Bắc Ninh, Thái Nguyên. Đầu năm nay, Đồng Nai đã cấp giấy phép đầu tư cho 2 dự án 100 triệu USD của nhà cung cấp linh kiện cho Samsung là công ty Hansol Electronics Việt Nam (Hàn Quốc).
Để nắm được cơ hội trên, Phó Chủ tịch VASI kiến nghị Chính phủ có những chính sách chọn lọc quy mô lớn để thu hút các "ông lớn" nước ngoài về Việt Nam. Tuy nhiên, các chính sách này phải kèm theo điều kiện sản xuất "sạch", bảo vệ môi trường và không xả thải ra môi trường. Bà Hương cũng kiến nghị một số vấn đề như nên có thêm các chính sách hỗ trợ nâng cao chất lượng lao động; các cơ quan chức năng cần tạo thuận lợi hơn cho doanh nghiệp tiếp cận với các chính sách hỗ trợ tín dụng của Chính phủ.
Đón "đại bàng" nhưng phải bảo vệ tài nguyên mềm cho doanh nghiệp trong nước
Trước đó, trao đổi với báo chí, bà Hương từng cho biết, nguyên nhân sâu xa của xu hướng chuyển dịch của chuỗi cung ứng vào Việt Nam, phần lớn đến từ việc, Trung Quốc có ngành công nghiệp điện tử và công nghệ thông tin đến nay đã tương đối phát triển. Trong chuỗi cung ứng toàn cầu, họ đã phát triển lên tầm cao hơn là chỉ lắp ráp đơn thuần như trước. Việt Nam là nước khá tương đồng với Trung Quốc trong các hoạt động về sản xuất điện tử, cả về nhân công và vị trí địa lý, cơ sở hạ tầng, logistics… và sẽ rất phù hợp để tiếp nhận dòng dịch chuyển vốn, cũng chính là dòng dịch chuyển về công nghệ.
Thứ nhất, mở cửa cho FDI nhưng phải chọn lọc công nghệ thượng nguồn, không mang tính cạnh tranh cao với những công nghệ đã có sẵn của doanh nghiệp sản xuất, lắp ráp trong nước. FDI vào Việt Nam cần tạo được hiệu ứng lan tỏa, tạo công ăn việc làm và tạo cơ hội cho doanh nghiệp trong nước tham gia vào chuỗi cung ứng của doanh nghiệp FDI đó, đồng thời tạo cơ hội tiếp nhận và chuyển giao công nghệ tiên tiến.
Thứ hai, công nghệ đưa vào Việt Nam không được phép là công nghệ tiêu thụ nhiều năng lượng không tái tạo, hủy hoại môi trường. Nếu FDI vào Việt Nam là nhà sản xuất đầu chuỗi, lại kéo theo một loạt vendor là doanh nghiệp nước ngoài để chiếm lĩnh thị trường, cạnh tranh với doanh nghiệp Việt, tiêu thụ toàn bộ đất đai và các nguồn tài nguyên không tái tạo của mình để thu lợi cho chính họ thì Việt Nam sẽ chẳng có lợi gì.
Bên cạnh việc ưu đãi, Chính phủ cần đặt điều kiện cho họ. Ví dụ như là một nhà sản xuất đầu chuỗi vào Việt Nam thì cần có yêu cầu mục tiêu phát triển được bao nhiêu nhà cung ứng là doanh nghiệp Việt trong 5 năm đầu tiên, rồi cho 5 tiếp theo. Như vậy thì doanh nghiệp Việt mới có cơ hội tận dụng được thị trường trong nước của mình và tham gia được vào sân chơi toàn cầu, tạo công ăn việc làm và cơ hội học hỏi, nâng cao tay nghề cho lao động.
Trong thập kỷ trước, hệ thống băng tải thường được xem là một khoản đầu tư xa xỉ, chỉ dành cho các tập đoàn có quy mô lớn. Nhưng hiện tại, trước áp lực khốc liệt của chuỗi cung ứng toàn cầu và sự bùng nổ của thương mại điện tử, cục diện đã hoàn toàn thay đổi. Việc lắp đặt hệ thống băng tải công nghiệp không còn là lựa chọn "có thì tốt", mà đã trở thành điều kiện tiên quyết để các doanh nghiệp sản xuất và logistics có thể trụ vững trên thị trường.
Tốc độ sản xuất phá vỡ giới hạn của sức người
Trong các môi trường sản xuất, rào cản lớn nhất kìm hãm năng suất chính là giới hạn vật lý của con người. Dù tổ đội bốc xếp có đông đảo đến đâu, tốc độ luân chuyển hàng hóa vẫn luôn bị kéo tụt bởi sự mệt mỏi, thời gian chuyển ca và sự chênh lệch nhịp độ giữa các cá nhân. Khi hệ thống băng tải tự động được đưa vào vận hành, nút thắt này lập tức bị phá vỡ. Thiết bị cơ khí thiết lập một quỹ đạo vận chuyển đều đặn, gánh vác những công việc nặng nhọc nhất và duy trì tốc độ xử lý chuẩn xác mà không hề có dấu hiệu đình trệ hay sai nhịp.
Khả năng luân chuyển liên tục giúp nhà máy rút ngắn đáng kể vòng quay sản xuất (Lead time), duy trì dòng chảy hàng hóa ổn định và khai thác tối đa công suất của dây chuyền. Nhờ đó, doanh nghiệp có thể chủ động xử lý những đơn hàng lớn trong thời gian ngắn, đảm bảo tiến độ giao hàng và nâng cao năng lực cạnh tranh trong các chuỗi cung ứng yêu cầu tốc độ và độ chính xác cao.

Lời giải cấp thiết cho bài toán thiếu hụt nhân lực
Nhiều năm trước, lợi thế cạnh tranh của các xưởng sản xuất chủ yếu dựa vào nguồn lao động giá rẻ. Tuy nhiên, khi thế hệ lao động trẻ hiện nay không còn mặn mà với những công việc khuân vác nặng nhọc, lặp đi lặp lại, các nhà máy bắt đầu thấm đòn "khủng hoảng nhân sự".
Đầu tư vào hệ thống băng tải chính là giải pháp để cứu vãn tình hình. Một dây chuyền băng tải vận hành liên tục có thể gánh vác khối lượng công việc của hàng chục công nhân bốc xếp. Cỗ máy có thể hoạt động liên tục, không mệt mỏi, không nghỉ phép và hoàn toàn miễn nhiễm với các biến động nhân sự. Quỹ lương khổng lồ tiết kiệm được sẽ giúp doanh nghiệp tái phân bổ lao động vào các khâu mang lại giá trị cao hơn như vận hành máy móc, kiểm soát chất lượng (QC) hay nghiên cứu phát triển.
Khoản đầu từ sinh lời bền vững
Dưới lăng kính quản trị tài chính, hệ thống băng tải không bao giờ là một khoản chi phí tiêu hao, mà thực chất là một "tài sản sinh lời bền vững". Mặc dù nguồn vốn đầu tư ban đầu có thể khiến nhiều doanh nghiệp e ngại, nhưng bài toán hoàn vốn (ROI) lại mang tính thuyết phục cao. Bằng cách cắt bỏ hoàn toàn quỹ lương bốc xếp khổng lồ hàng tháng, triệt tiêu chi phí đền bù do hàng hóa rơi vỡ và chặn đứng những khoản thiệt hại khôn lường từ việc dừng máy
Khi ứng dụng hệ thống vào sản xuất, doanh nghiệp có thể tự bù đắp chi phí trong vòng 12 đến 18 tháng đầu tiên. Bước qua điểm hòa vốn, với kết cấu cơ khí bền bỉ và vòng đời vận hành lâu dài, cỗ máy sẽ tiếp tục tối ưu hóa dòng tiền, chuyển hóa trực tiếp công suất tự động hóa thành biên độ lợi nhuận ròng vững chắc cho doanh nghiệp

Tạo không gian làm việc an toàn và chuyên nghiệp
Sự xuất hiện của hệ thống băng tải giúp tái cấu trúc hoàn toàn bộ mặt nhà xưởng. Bằng việc quy hoạch luồng hàng hóa di chuyển trên một quỹ đạo cố định, doanh nghiệp sẽ loại bỏ được tình trạng xe nâng, xe đẩy chạy đan xen lộn xộn, triệt tiêu triệt để rủi ro tai nạn giao thông nội bộ và an toàn lao động do bốc vác hàng hóa nặng
Không chỉ bảo vệ tối đa sức khỏe người công nhân, việc trả lại một mặt sàn thông thoáng, trật tự và vận hành êm ái còn giúp nhà máy đáp ứng hoàn hảo các tiêu chuẩn 5S. Đây chính là "điểm chạm" trực quan nhất thể hiện năng lực quản trị, xây dựng một môi trường làm việc khoa học, an toàn và chuyên nghiệp
Đảm bảo tính toàn vẹn của hàng hóa
Quá trình bốc xếp thủ công hay sử dụng xe kéo luôn là nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng hàng hóa bị rơi vỡ, trầy xước hay móp méo. Sử dụng hệ thống băng tải sẽ loại bỏ "biến số" rủi ro này bằng một quỹ đạo luân chuyển cố định, trơn tru và êm ái. Dù là linh kiện điện tử mỏng manh, chai lọ dễ vỡ hay các kiện hàng đắt tiền, đều sẽ được di chuyển an toàn qua từng công đoạn. hạn chế tối đa những va chạm không đáng có trong quá trình vận chuyển.
Không chỉ giúp giảm tỷ lệ hư hỏng và chi phí phát sinh, băng tải còn tạo nên một quy trình luân chuyển nhất quán, dễ kiểm soát, từ đó nâng cao độ chính xác và hiệu suất vận hành cho toàn bộ dây chuyền. Khi rủi ro được kiểm soát ngay từ khâu di chuyển, doanh nghiệp có thể yên tâm về chất lượng hàng hóa trước khi đến tay khách hàng.
Băng tải PVC thông dụng nhiều ngành công nghiệp


